Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH




Trên đời này không có cái gì là không có tác dụng giáo dục, cũng không làm gì có những truyện cổ tích không chứa đựng những yếu tố “răn dạy”, những yếu tố giáo dục. Trong các truyện cổ tích, điều trước tiên có tác dụng giáo dục là sự “hư cấu” - cái khả năng kỳ diệu của trí óc chúng ta có thể nhìn xa về phía trước sự kiện. Trí tưởng tượng phóng túng của những người kể chuyện cổ tích đã biết đến những “tấm thảm biết bay” hàng chục thế kỷ trước khi loài người phát minh ra máy bay, đã tiên đoán những tốc độ di chuyển kỳ diệu trong không gian từ rất lâu trước khi có máy hơi nước, máy nổ và máy điện.

Tôi nghĩ rằng, chính trí tưởng tượng, chính “hư cấu” đã sáng tạo và tu dưỡng một trong những phẩm chất kỳ diệu của con người: trực giác, là sự hư cấu thường đến giúp người nghiên cứu thiên nhiên đúng vào những lúc mà tư tưởng của người đó, sau khi đo đạc tính toán, không đủ sức liên hệ những điều đã quan sát với nhau để rút ra một kết luận thực tiễn chính xác. Những lúc ấy, một linh cảm hiện ra trong trí người nghiên cứu: “Có lẽ nó là thế này chăng”? Thế là, người làm khoa học bổ sung vào chuỗi quan sát bị gián đoạn của mình một cái khâu giả định, đề ra một “giả thiết”. Về sau, hoặc giả việc nghiên cứu thêm các sự kiện sẽ xác nhận giả thiết này - trong trường hợp đó ta sẽ có được một lý thuyết khoa học chính xác, hoặc giả những sự việc, những cuộc thí nghiệm sẽ bác bỏ giả thiết ấy đi.

Trong văn học, trí tưởng tượng, sự hư cấu, trực giác đóng vai trò quyết định. Quan sát, nghiên cứu, hiểu biết, chưa đủ còn phải “bày đặt ra” nữa, phải sáng tạo ra. Sáng tạo là kết hợp một mớ yếu tố vụn vặt lại thành một tổng thể lớn duy nhất có một hình thức hoàn chỉnh. Tất cả những tác phẩm lớn nhất của nền văn học thế giới, tất cả những “điển hình” lớn nhất đều được sáng tạo như vậy: Rôbinxon Cruxo, Đông Kisôt, Hămlet, Vecte, Karamazôp, Ôblômôp, Bezukhôp, v.v... là những kiểu người ít nhiều đã lỗi thời, nhưng vẫn còn sống giữa chúng ta.

Trong số các di tích tuyệt diệu của sáng tác truyền khẩu dân gian thì các Truyện cổ tích của nàng Sêhêrazat là di tích đồ sộ nhất. Những truyện cổ tích này thể hiện với một mức hoàn hảo kỳ diệu cái xu hướng của nhân dân lao động muốn buông mình theo “phép nhiệm mầu của những ảo giác êm đẹp”, theo sự kết hợp phóng khoáng của từ ngữ, thể hiện sức mạnh vũ bão của trí tưởng tượng hoa mỹ của các dân tộc phương Đông - người Ả-rập, người Ba-tư, người Ấn Độ. Công trình dệt gấm vóc bằng từ ngữ này xuất hiện từ thời tối cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan khắp bốn phương phủ lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng.

Các nhà bác học chuyên nghiên cứu về ngành này đã xác định được rằng những truyện cổ tích của người Trung Quốc đã được sưu tầm và đem in từ 2200 năm trước công nguyên - trước thời “Thiên chúa giáng sinh” như trước kia người ta vẫn nói. Và về chủ đề, ý nghĩa, những truyện cổ tích này vẫn có nhiều điểm chung với các truyện cổ tích của người Ấn-Độ và của các dân tộc châu Âu. Lời khẳng định này cho phép tôi nghĩ rằng cách giải quyết đúng đắn vấn đề quy mô phổ biến của các truyện cổ tích là cách giải quyết của những nhà chuyên môn - như Alecxanđrơ Vexelôpxki nổi tiếng của chúng ta - chủ trương rằng sở dĩ các truyện cổ tích giống nhau về chủ đề và phổ biến rộng rãi như vậy là vì dân tộc này thường vay mượn truyện cổ tích của dân tộc khác. Vay mượn không phải bao giờ cũng là xuyên tạc, đôi khi việc vay mượn bổ sung cho truyện và làm cho nó đã hay càng hay hơn.

Khó lòng có thể không tin chắc rằng quá trình vay mượn và bổ sung các truyện cổ bằng những đặc điểm sinh hoạt của từng chủng tộc, từng dân tộc, từng giai cấp, đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển nền văn hoá trí tuệ và vốn sáng tác dân gian. Con người làm quen với những sự vật mới lạ không phải chỉ bằng cách trực tiếp nhìn thấy và sờ mó những vật đó. Có lẽ các truyện cổ tích đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của một số nghề thủ công: nghề gốm, nghề rèn, nghề dệt, nghề đúc vũ khí, v.v. Các nghề thủ công dần chuyển thành nghệ thuật, như ta có thể thấy qua các viện bảo tàng. Tôi nghĩ rằng người ta sẽ tìm thêm được khá nhiều bằng chứng cho thấy rõ ảnh hưởng văn hoá của các truyện cổ tích. Các nhà văn hoá sử cũng như các nhà sử học nghệ thuật đều nói ít và không được rõ về tầm ảnh hưởng văn hoá rộng rãi và mạnh mẽ của truyện cổ tích.

Ảnh hưởng của sáng tác truyền khẩu đối với văn học bằng chữ viết đặc biệt quan trọng và không thể chối cãi được. Các nhà văn ở tất cả các nước và tất cả các thời đại đều đã sử dụng các truyện cổ tích và các chủ đề của truyện cổ tích. Cuốn tiểu thuyết Con lừa vàng của Apulê viết phỏng theo một truyện cổ tích. Nước Ý sử dụng truyện cổ tích bắt đầu từ thế kỷ XIV trong tác phẩm Đêcamêrôn của Boccatsiô; ảnh hưởng của truyện cổ tích hoàn toàn rõ rệt trong các tác phẩm Pentamêrô, Hectamêrôn và trong tập Truyện Kentobery của Tsoxơ. Sử dụng truyện cổ tích trong tác phẩm còn có Gơtơ, Giăngli, Banzăc, Giorgiơ Xăng, Đôđê, Coppê, Labuiê, Anatôn Frăngxơ, Cácmen, Xinva, Anderxen, Toppliux, Đicken - không sao nhớ hết được. Ở nước ta, truyện cổ tích đã được cả một loạt những nhà văn hạng lớn nhất sử dụng, trong số đó có Khemnitxe, Jukôpxki, Puskin, Lep Tônxtôi. Sự lệ thuộc của nền văn học đối với sáng tác truyền khẩu của dân gian về hình thức, chủ đề và ý nghĩa giáo dục là một điều hoàn toàn không còn có thể hồ nghi gì nữa, và rất bổ ích.

Riêng về tôi, tôi phải thừa nhận rằng truyện cổ tích đã có tác dụng hoàn toàn tích cực với sự trưởng thành trí tuệ của tôi, khi tôi nghe kể những truyện như vậy từ cửa miệng bà tôi hoặc những người kể chuyện ở trong làng. Hồi nhỏ tôi rất kinh ngạc khi thấy các truyện cổ tích được in thành sách, điều đó càng làm cho tôi đánh giá cao hơn nữa các truyện cổ tích và ý nghĩa của nó. Vào khoảng mười hai tuổi, tôi có đọc tập Truyện Ả-rập mới, một cuốn sách xuất bản ở tỉnh nhỏ vào thế kỷ XVIII. Hồi ấy tôi cho rằng tất cả những gì đã in trong sách đều là sự thật cả.

Tôi tin chắc rằng làm quen với truyện cổ tích, và nói chung với những kho tàng vô tận của sáng tác truyền khẩu dân gian là một việc rất có ích cho các nhà văn trẻ mới vào nghề. Không phải chỉ có mình tôi nhận thấy phần đông các nhà văn đều phục tùng thực tại một cách ngoan ngoãn và tuyệt đối, chụp ảnh thực tại bằng văn vần và văn xuôi, họ làm việc đó một cách hết sức khô khan, nhạt nhẽo, dùng những từ ngữ đã nguội lạnh, thế nhưng thời đại lại đòi hỏi nhiệt tình bồng bột, đòi hỏi tinh thần trào lộng. Dĩ nhiên truyện cổ tích không thể làm cho người ta có được một cái gì hoàn toàn xa lạ đối với bản chất của mình. Tôi nghĩ rằng, một ông giáo dạy số học chỉ có thể là một nhà thơ rất tồi. Nhưng truyện cổ tích có thể giúp cho trí tưởng tượng của nhà văn phát triển mạnh, làm cho anh ta biết coi trọng ý nghĩa của hư cấu đối với nghệ thuật, và chủ yếu là làm giàu cho cái vốn ngôn ngữ eo hẹp, cái vốn từ vị hạn chế của anh ta, mà anh ta thường cố gắng một cách vô hiệu tìm cách làm giàu thêm bằng những “từ địa phương” những “thổ ngữ hay những từ bịa ra một cách bừa bãi, những cái quái thai chưa sinh đã chết, và những cố gắng đó hầu như bao giờ cũng đem lại những kết quả rất quái gở.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh việc Viện Hàn lâm cho xuất bản bản dịch đầu tiên của tập truyện Một nghìn lẻ một đêm, dịch từ nguyên tiếng Ả-rập. Đó là một công lao hết sức có giá trị của người dịch đối với nền văn hoá, và là một công việc tốt, hoàn toàn hợp thời của nhà xuất bản.

M.GORKI

Nguồn: Bài tựa cho tập truyện Một nghìn lẻ một đêm, 1929 (Nga)

Cao Xuân Hạo dịch

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét