(LNK). Năm 1989, Phạm Hổ viết tiểu luận "Trao đổi với các em về văn miêu tả và kể chuyện". Tiểu luận này được đưa vào sách "Văn miêu tả và kể chuyện"(1991) do ông và các nhà văn Vũ Tú Nam, Bùi Hiển và Nguyễn Quang Sáng thực hiện. Riêng Phạm Hổ, bên cạnh tiểu luận kể trên, ông còn tuyển chọn và viết lời bình cho 67 trích đoạn văn hay. Thời gian trước, chúng tôi đã giới thiệu phần I. Văn miêu tả, nay giới thiệu tiếp phần II. VĂN KỂ CHUYỆN.
“Ngày xưa có hai anh em nhà kia,
khi cha mẹ mất, mới đem của cải ra chia cho nhau...” Nếu truyện Cây khế mà chỉ
viết đến đó thì không thể gọi là truyện được, vì nó chưa có chuyện và chưa có ý
nghĩa gì cả. Mà chuyện kể thường hay có hai yếu tố đó. Nếu kể tiếp: “Người anh
tham lam giành hết nhà cửa, của cải và chỉ chia cho em mình một túp lều con
cùng một cây khế” thì cũng đã bắt đầu vào chuyện nhưng vẫn chưa có chuyện. Phải
có chuyện con chim tới ăn khế, phải có chuyện người em rồi người anh theo chim
đi lấy vàng, người anh tham quá bị chết... thì mới gọi là có chuyện, có ý
nghĩa... Nói thế không loại trừ khả năng có thể viết truyện không có cốt truyện
mà vẫn hay. Nhà văn Nguyễn Công Hoan có viết truyện: Thanh! Dạ! trong đó có thể
nói là không có cốt truyện gì cả. Thanh một đứa ở, hết bị người này gọi, sai bảo
làm việc gì đó, lại bị bao người khác gọi, sai làm việc khác. Không có chuyện
nhưng vẫn có ý nghĩa: số phận một đứa ở thật đáng thương, một mình phải phục dịch
cho bao nhiêu ông chủ, bà chủ, cô chủ, cậu chủ... Vì vậy, dù có chuyện hay
không có chuyện, những gì ta kể đều phải có ý nghĩa. Nên hiểu ba chữ có ý nghĩa
này một cách thật rộng rãi. Có khi đó là một triết lý về cuộc sống một người đi
xin việc làm, chỉ nhờ nhặt một cái đinh, mà được nhận vào làm việc. Truyện ấy
muốn nói nhiều khi những việc nhỏ lại thể hiện được bản chất con người... Có
khi đó là một vấn đề xã hội mà tác giả muốn nêu lên trong truyện. Trong Chị bếp
đi lấy chồng của A.Sê-khốp, tác giả muốn nêu lên câu hỏi: Tại sao đi lấy chồng
khổ như vậy mà người ta vẫn cứ đi lấy chồng và sao số phận người phụ nữ lại cứ
khổ như vậy? Có khi đó là một tình cảm rất đẹp, rất cao quý mà người kể chuyện
muốn gợi lên: một người đi du lịch nhiều nơi khi trở về quê hương mới thấy quê
hương mình là nơi đẹp nhất. Ở câu lạc bộ Văn học Cung thiếu nhi Hà Nội, có một
em kể chuyện “một đêm mất điện” ở nhà em. Nhưng chính nhờ có chuyện mất điện
đêm ấy nên em đã ra vườn, đã thấy hết vẻ đẹp của mặt trăng, và quan trọng hơn
là tự phát hiện ra mình: có một người bạn trai đang chú ý đến em mà em cũng cảm
thấy lòng mình có một sự rung động nào đó, rất mới, rất lạ.
***
Trong truyện dân gian Nga có Nồi
súp rìu một chuyện hay. Một bà keo kiệt kia không muốn cho ai một tí gì. Một
anh lính đi trận về, đói quá, nhưng biết tính bà này, anh chỉ mượn bà cái rìu để
nấu xúp. Mượn cái rìu để nấu xúp thì có mất gì nhỉ? Bà đồng ý. Anh lính rửa sạch
cái rìu, bỏ vào nổi, rồi đổ nước đun sôi thật lâu. Anh nếm thử, khen là ngon,
nhưng lại bảo: “Bà cho ít bột để bỏ vào thêm thì còn ngon hơn. Tôi sẽ mời bà
món xúp rất đặc biệt này”. Bà kia cho một ít bột. Anh lính lại nếm và lại nói:
“Giá có tí bơ và muối cho vào thì càng tuyệt”. Bà kia lại cho một ít bơ và muối.
Cuối cùng anh lính mời bà cùng ăn món xúp rìu. Món xúp ngon thật. Anh lính còn
xin được cả bánh mì nữa. Bà kia vừa ăn à kia vừa ăn vừa lạ lùng không hiểu cái
anh chàng này nấu xúp như thế nào mà ngon quá. Còn anh lính thì vừa ăn vừa cười
thầm trong bụng.
Tôi kể qua câu chuyện này chủ yếu
là muốn lại nói với các em một điều quan trọng trong việc kể chuyện. Đó là sự
hợp lý, hay nói như người ta thường nói, đó là tính logic trong câu chuyện.
Nếu anh lính kia mà không dùng mưu, mượn cái rìu trước cái đã, rồi nấu, rồi nếm
thử và khen ngon thì chưa chắc có thể xin tiếp bà keo kiệt kia nào bột, nào mỡ,
muối và cuối cùng là bánh mì. Nếu không xin từng thứ một mà xin tất cả cùng một
lúc thì chắc chắn là bà ấy sẽ không chịu bỏ ra chừng ấy thứ cho anh lính kia. Lại
cũng phải có cái động tác nếm thử và khen ngon (!) thì mới dễ xin tiếp thứ này,
thứ khác. Rốt cuộc là bà keo kiệt đã cho tất cả những thứ gì cần thiết để nấu
xúp mà bà vẫn thấy vui vẻ, và anh lính rất thông minh kia đã ăn một bữa xúp thật
ngon lành.
Kể chuyện là phải như thế. Nghĩa
là phải làm người nghe mình thấy là đúng, là phải, tin là nó có thật như vậy
(hoặc có thể thật như vậy). Chứ viết về một bà keo kiệt mà lại như viết về một
người rộng rãi tốt bụng thì người đọc, người nghe sẽ lắc đầu và bảo: bà ta đã
keo kiệt thì không thể cho đủ cả mọi thứ một cách dễ dàng thoải mái như vậy.
Phải hợp lý trong cả câu chuyện
cũng như trong từng tình tiết. Nếu anh lính kia xin mỡ ngay thì chưa chắc bà
keo kiệt đã chịu bỏ ra, mà chỉ xin tí bột thôi, rồi sau đó mới xin tí mỡ... Và
nếu anh lính không có lời mời trước bà ta cùng ăn, thì chưa dễ bà ấy đã lần lượt
bỏ ra đến chừng ấy thứ.
Cũng về tính hợp lý, có người kể
chuyện về một em bé lên 6 tuổi mà nghe như là một em bé 15, 16. Như thế là
không ổn. Đặc biệt tôi xin nói thêm, khi kể chuyện, nhất là về các con vật, các
loài cây cỏ, thường thì người ta vẫn phải tôn trọng những đặc điểm, đặc tính và
tâm lý của nhân dân đối với từng con vật, từng loài cây cỏ ấy. Không thể kể về
một con cáo mà tính nết lại thật thà, hay một con hổ mà lại hiền lành hoặc chỉ
ăn rau để sống(!), một cây ổi mà cành chạm đến là gãy, cây xoài, cành trèo lên
đến mấy người mà vẫn không sao (Xoài dòn, mít dẻo, ổi dai kia
Nghĩa là thường tình, muốn lấy được
lòng tin của người đọc, người nghe, từ toàn bộ câu chuyện cho đến các tình huống
chi tiết đều phải hợp lý, đúng sự thật.
Nhưng mọi sự trên đời đều có ngoại
lệ: cũng có khi người kể chuyện muốn viết chuyện ngược đời (như trong đồng dao
có bài viết cỏ ăn trâu, cá đơm đó v.v..) hoặc có dụng ý cho con vật ấy, cái tên
ấy, vì một lý do nào đó, lại có những đặc điểm, đặc tính trái ngược lại. Trong
những trường hợp đó, người kể chuyện phải nói rõ ý định của mình, hoặc phải giải
thích vì sao lại có chuyện ngược đời kia (hoặc nói thẳng ra hoặc nói một cách
gián tiếp, ẩn ý).
***
Truyện kể thường có nhiều loại:
- Truyện ta tự nghĩ ra (sáng tác,
hư cấu)
- Truyện kể lại (đọc sách, nghe kể
rồi ta kể lại)
- Truyện viết tiếp theo những
chuyện đã có
- Truyện viết ngược lại những
truyện đã nghe quen, v.v...
Loại truyện ta tự nghĩ ra để viết
có rất nhiều dạng như tôi đã nói trên (chuyện về người, về loài vật, cây cỏ...)
với nhiều thể loại phong phú: truyện cổ tích mới, truyện đồng thoại, truyện lịch
sử, truyện chiến đấu, truyện khoa học (trong đó có khoa học viễn tưởng), truyện
trinh thám, truyện dị thường (như truyện viết về ma kiểu Liêu trai chí dị)
v.v... Có lẽ loại truyện tự nghĩ ra là loại được viết nhiều nhất, nhưng loại
truyện kể lại xem ra cũng không ít. Truyện An Tiêm, bao nhiêu người đã viết: Quả
dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, Đảo hoang của Tô Hoài và nhiều truyện thơ của
các nhà thơ. Tấm Cám thì chắc ai cũng biết là rất nhiều nhà văn đã viết lại, thậm
chí có người đã viết thành kịch bản và đưa lên sân khấu.
Truyện kể lại cũng có nhiều cung
cách. Cùng một cốt truyện ấy, có người cứ kể nguyên như cũ, chỉ chú trọng đến
câu văn và không khí mà tác giả muốn tạo nên (An Dương Vương xây thành Ốc của
Nguyễn Huy Tưởng), có người lại nhấn mạnh về mặt này, mặt khác, hoặc khắc họa
nhân vật theo quan niệm của mình một cách thể hơn (Truyện Cây khế của Vũ Thị
Thường). Lại có người chỉ khai thác một khía cạnh nào đó, khi kể các câu chuyện
cũ, để từ đó nói với người đọc những điều mình suy nghĩ về cuộc đời (Cái bóng
trên vách của Nguyễn Đình Thi, viết dựa theo câu chuyện xưa: Người đàn bà Nam
Xương tức là truyện Vợ chàng Trương)... Có một lần tại Câu lạc bộ Văn học Cung
văn hóa thiếu nhi Hà Nội, tôi đã đưa cho các em đọc truyện Người đàn bà Nam
Xương và sau đó đọc Cái bóng trên vách. Rồi tôi đề nghị các em hãy kể lại câu
chuyện Vợ chàng Trương theo cách các em thích (có thể vào vai người chồng, đứa
con, hoặc người hàng xóm, hoặc chính ngọn đèn v.v... để kể lại). Trong số những
bài các em làm, có một em đã vào vai một cây lau để kể lại câu chuyện trên. Em ấy
đã tưởng tượng ra cái cảnh vợ chàng Trương, trước khi nhảy xuống sông tự tử đã
ngồi than khóc một mình để bày tỏ hết nỗi oan trái của mình với trời, với đất,
với dòng sông... Thế là cây lau kia đã nghe được hết. Và bây giờ cây lau kể lại.
Cũng sáng tạo, cũng khá độc đáo đấy chứ các em nhỉ! Truyện viết tiếp có điều
này rất khó: truyện đã có trước thường lúc nào cũng là những truyện hay hoặc rất
hay. Vậy thì cái phần ta nghĩ ra để kể tiếp cũng phải làm sao xứng với truyện
đã có trước. Nếu không thì sẽ thất bại đau đớn. Một lần tôi đã thử làm việc đó
và đã kể tiếp chuyện Trí khôn người ở đâu? (câu chuyện con hổ ác, bị người nông
dân buộc vào gốc cây để nó khỏi ăn mất trâu của mình, trong khi mình về nhà lấy
trí khôn đưa cho hổ, rồi sau đó lấy lửa đốt hổ và nói to: “Trí khôn tao đây!
Mày đã thấy chưa”?). Tôi đã viết Lửa vàng, lửa trắng kể chuyện đứa con người
nông dân trước kia, bây giờ lại trị tội hổ con của con hổ già ngày trước, bằng
cách đốt nó với một thứ lửa khác, không giống cái thứ lửa màu vàng khi hổ già
đã bị đốt mà bằng một thứ lửa màu trắng, ấy là vôi sống bỏ vào hố nước...
Truyện kể ngược lại với truyện cũ
cũng có một số nhà văn đã viết. Trong câu chuyện cũ, thằng Cuội vốn mang tiếng
là nói dối (nói dối như Cuội) nhưng trong Hòn Cuội, Nguyễn Đình Thi đã dựng và ở
nên một chú Cuội rất đáng yêu, đáng quý vì ở đó ta thấy Cuội thật sự là một con
người, theo cái nghĩa đẹp của nó.
***
Trong truyện ta kể, thường phải
có nhân vật.
Chọn nhân vật, hình dáng ra sao,
cao thấp thế nào, tính nết ra sao, dựa vào ai có thật ở ngoài đời để đưa vào
truyện mình kể (người mẫu) là cả một vấn đề. Vì chính qua nhân vật mà ta mới
nói lên được cái điều ta muốn nói với người nghe ta, đọc ta.
Thường thường, các tác giả hay dựa
vào một người chính, rồi bồi đắp, thêm thắt vào. Có thể lấy đôi mắt người này đặt
vào khuôn mặt người kia, có thể cho thêm một bộ râu, một vết sẹo v.v... Quan trọng
hơn có thể lấy tính nết, hoặc thói quen của một người nào đó ghép thêm vào tính
nết của người mình đã chọn làm nhân vật, hoặc lấy hành động người này ở nơi
đây, đặt cho người no ở nơi kia, v.v...
Đặt tên cho nhân vật cũng là một điều đáng
quan tâm và cũng khá quan trọng. Thông thường những nhân vật đẹp, cao thượng
hay có những cái tên đẹp và quý. Và kẻ ác, xấu có cái tên không hay tí nào.
Nhưng cũng có trường hợp tác giả dụng ý đặt cho nhân vật mình một cái tên xấu
xí hoặc thô thiển để người đọc thấy thương và có cảm tình với nhân vật của mình
hơn. Tên nhân vật có khi mang cả tâm huyết của tác giả. Trong Tìm mẹ, Nguyễn
Huy Tưởng không phải bỗng dưng mà đã đặt tên cho hai em bé trong truyện là Nhà
và Gạo đâu. Mà chính vì cái ở (Nhà), cái ăn (Gạo) là hai cái điều gốc gác nhất
trong cuộc sống của con người, nhất là ở Việt Nam.
Còn trường hợp nhân vật là những
con vật, những loài cây cỏ, hoặc mặt trời, mặt trăng, thì tôi đã có nói, đã
trao đổi với các em ở phần trên rồi. Tôi xin miễn nói lại ở đây...
***
Muốn kể chuyện hay, người viết
nên biết những cái hay trong nghệ thuật kể.
Chúng ta ai cũng biết truyện Sang
cả mình con - Với nội dung ấy thật ra có nhiều cách kể. Có thể kể rất thật thà
và câu kết đơn giản là “Thưa ông, ông mát rồi, khỏe rồi, còn con thì mệt nhoài
người ra đây!” hoặc khá hơn một chút: “Thưa ông, ông ráo hết mồ hôi thì con lại
ướt đẫm mồ hôi”. Nhưng hay nhất vẫn là cách cha ông ta đã “Mồ hôi ông đã chạy hết
sang mình con”. Nó vừa có hình tượng, vừa có có ý nghĩa mỉa mai phê phán. . Trở
lại truyện Nồi xúp rìu. Thực ra cũng có
nhiều cách để làm cho cái bà keo kiệt kia phải bỏ ra một ít bột, mỡ, bánh mì.
Ví dụ có thể bịa ra một cốt truyện khác. Biết bà này keo kiệt, nhưng cũng biết
bà ta có đứa con đi ra trận, nên anh lính kia mới kể: “Có một anh lính, vì gặp
một bà keo kiệt, nên đã chết đói ở trên đường về thăm mẹ…”. Bà keo kiệt nghe chuyện lo nghĩ đến con minh,
xấu hổ vì cái tính keo kiệt của mình nên đã đem bột, mỡ và bánh mì ra cho anh
lính nấu xúp ăn cho đỡ đói... Nhưng rõ ràng là giữa hai cốt truyện, cốt truyện
Nồi xúp rìu hay hơn nhiều vì nó thông minh hơn, mới hơn, hấp dẫn hơn. Còn cốt
truyện sau thì phần nào hơi công thức... Qua hai câu chuyện Sang cả mình con và
Nồi xúp rìu, chúng ta có thể nói: phải chọn cốt truyện hay nhất, cách kể hay nhất
để mà kể chứ không phải cốt truyện nào cũng kể, cách kể nào cũng được. Có nhà
văn đã nghĩ ra ba bốn, năm cốt truyện rồi mới chọn cái nào ưng ý nhất để viết.
***
Có nhân vật rồi, có cốt truyện
hay rồi (và nên nhớ cái hay của cốt truyện chủ yếu vẫn là ý nghĩa của nó) nhưng
nếu không tạo được tình huống hay, chi tiết hay thì cũng rất dễ bị nhạt nhẽo. Người
chồng trong Người đàn bà Nam Xương có thể đi trận về và ghen vợ trong nhiều
tình huống khác. Ví dụ: vì có kẻ xấu gièm pha (kẻ này trước kia yêu vợ chàng
Trương, chàng Trương đi vắng, vẫn tiếp tục quyến rũ mà không được). Cũng có thể
ghen với một chàng trai trước kia thân thiết với vợ mình, lúc về lại bắt gặp
hai người đang chuyện trò thân mật (mặc dù sự thật là hai người đang lo bàn
chuyện sửa lại cái nhà cho đỡ dột) v.v... Nhưng dùng cái bóng trên vách để tạo
nên sự nghi ngờ và ghen tuông của người chồng thì thật là tuyệt. Nhất là với những
câu nói của đứa con nhỏ: “Ở nhà con cũng có cha... mẹ ngồi cha cũng ngồi, mẹ đi
đâu cha đi theo đó...”. Thêm nữa, còn có cái thâm thúy là thực ra cái bóng, bản
thân nó có đâu. Phải có một ngọn đèn, một con người thì cái bóng kia mới có được.
Vậy mà nó - cái vốn không có đó - lại có thể gây nên tai họa, tang tóc cho cả một
gia đình nếu người trong cuộc không bình tĩnh, sáng suốt và không có lòng tin ở
người thân yêu của mình.
Cái tình tiết sau khi người vợ nhảy
xuống sông tự tử, đứa con mới chỉ vào cái bóng của cha mình và nói: “Cha trước
của con lại về kia kìa!”. Và người cha bàng hoàng nhận ra nỗi oan của vợ, hối hận
đến tột cùng, cũng là một tình tiết hết sức đắt giá.
Tình huống, chi tiết thường gắn với
chất liệu: Trong Cây Khế, bản thân cây khế là một chất liệu. Chọn chất liệu vì
vậy là một việc làm rất quan trọng. Vì sao chọn chất liệu cây khế là hay? Theo
tôi nghĩ vì cây khế đúng là cây của nhà nghèo. Vị chua của khế là vị chua rẻ tiền
hơn các vị chua khác, như chanh chẳng hạn: Chợ chiều nhiều khế ế chanh, Nhiều
cô gái góa nên anh chàng ràng (ca dao). Như thế rõ ràng khế chỉ là những cô gái
góa, còn chanh mới là những cô gái chưa chồng. Mặt khác màu vàng của quả khế
chín, sáng lấp lánh rất gần với vàng (vàng để làm đồ trang sức) hơn là màu vàng
của bưởi, của xoài... Cũng như trong truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen mà
chúng ta ai cũng biết, ánh sáng của những que diêm (chứ không phải của những ngọn
nến, hay những ngọn đèn dầu) thật là thích hợp với câu chuyện ông kể. Lửa diêm
sáng lóe lên, sáng đến xanh biếc nhưng chỉ trong giây lát đã tắt ngay, giống hệt
như những mơ ước của cô bé bán diêm nghèo đói: em đánh diêm lên và trong ánh
sáng kì ảo ấy, em thấy hiện ra một gian phòng ấm, một bàn dọn các món ăn ngon,
sau cùng em gặp được bà em... Nhưng tất cả đã biến liền ngay sau đó...
Kể chuyện có rất nhiều cách kể. Và
mỗi ngày người ta lại tìm ra những cách mới. Người ta có thể kể theo trình tự
thời gian, chuyện xảy ra trước kể trước, chuyện xảy ra sau kể sau. Thường thường
các truyện cổ tích hay kể theo kiểu này (Tấm Cám, Cây khế, Ông Gióng...).
Nhưng người ta cũng có thể kể ngược
lại. Chuyện xảy ra sau kể trước, chuyện xảy ra trước kể sau. Cách này, người ta
cũng rất hay dùng. Ví dụ: một người mẹ đang buồn (chuyện hiện nay) vì đứa con
trai không vâng lời mình (chuyện xảy ra trước đó, bây giờ nhắc lại) và bà quyết
định sẽ đến nhà người con gái để ở, không ở với người con trai nữa (chuyện sắp
xảy ra).
Còn có cách kể chuyện đan xen vào
nhau nhiều hơn: trước sau, sau - trước, trước - sau. Ví dụ: Một anh thương binh
đang làm chủ nhiệm hợp tác xã, ngày đó bỗng gặp lại người bạn chiến đấu cũ của
mình. Người bạn đang gặp khó khăn muốn nhờ anh giúp đỡ. Anh bộ đội chủ nhiệm nhớ
lại chuyện ngày trước ở chiến trường anh bạn kia đã cứu mình thoát chết, Anh gắng
giúp bạn nhưng một người trong ban chủ nhiệm không ủng hộ. Anh thử tìm hiểu
nguyên nhân và sực nhớ đến một chuyện không hay đã xảy ra giữa hai người trước
đó không lâu. Vì bạn, anh lại suy nghĩ tìm cách thuyết phục cho được đồng chí
trong ban chủ nhiệm kia. Cuối cùng anh đã đạt được ý muốn…
Cách kể chuyện hai việc cùng xảy ra
trong một lúc ở hai nơi khác nhau, cũng là một cách thường gặp ở một số câu
chuyện: Ở nhà, bà mẹ kia đang hi vọng con mình sẽ học giỏi, thành đạt cũng đúng
vào lúc đó ở tại thành phố nọ đứa con của bà đang chơi bời, nhậu nhẹt, không
nghĩ gì mẹ ở nhà.
Tôi chỉ xin thử kê ra một số cách
kể chuyện trên đây. Còn, như tôi đã nói, có vô vàn cách kể chuyện. Có cách kể ở
ngôi thứ ba: Nằm mãi không ngủ được. Chị nghĩ đến mẹ mình đang bị ốm nặng.
Có cách kể ở ngôi thứ nhất thường
là câu chuyện tự thuật, hồi ức: Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng ven biển...
Tôi không còn nhớ mặt bố tôi ra sao nữa vì bố tôi mất sớm...
Có cách kể ở ngôi thứ ba, là chủ
yếu: Xuân đi dạy học đã ba năm nay, anh được các bạn đồng nghiệp và các em học
sinh quý mến... nhưng xen vào đó là những đoạn kể ở ngôi thứ nhất (tự thuật nội
tâm): Xuân đang trên đường về nhà: Sao hôm nay mình lại không tự kiềm chế được
mình và đã mắng các em hơi quá lời như vậy.
Lại còn có cách kể... cả một câu
chuyện dài mà chỉ toàn qua những lá thư gửi đi, gửi lại giữa hai người là nhân
vật trong câu chuyện. Gần đây tôi còn được đọc một vài tác giả, kể một câu chuyện
mà chỉ toàn bằng đối thoại giữa hai người (người này là chồng, người kia là vợ).
Vì vậy các em cứ tha hồ tìm chuyện
mình muốn kể, theo cách thích hợp nhất.
***
Người ta thường nói kể chuyện khó
nhất là lúc vào đầu. Điều đó có thể đúng. Nhưng nếu vậy thì kết thúc không khó
hay sao?
Nói chung mở đầu và kết thúc đều
quan trọng. Một bên như là để mời người đọc và sống với câu chuyện mình kể. Một
bên là để tiễn người đọc ra về. Nếu người đọc ra về mà không nhớ một chút gì,
không suy nghĩ vui, buồn một chút nào về câu chuyện mình kể thì hãy coi chừng.
Người viết đã thất bại rồi đấy.
Câu chuyện cổ tích thường bắt đầu
bằng: Ngày xưa có một cậu bé,... Ngày xưa, có một cặp vợ chồng, v.v... Gần đây,
viết những truyện cổ tích mới có người có thay đổi đi đôi chút: Ngày xưa, xưa,
xưa... hoặc Ngày cho lắm... (Chuyện hoa, chuyện quả của Phạm Hổ) và sau đó là
người kể đi thẳng luôn vào câu chuyện mình muốn kể.
Cũng cách kể chuyện na ná như vậy,
người ta có thể mở đầu bằng tên một người đã nổi tiếng: “Không Tử ra chơi ngoài
đồng thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ non...” hoặc: “Ông Tăng Sâm ở đất Phi. Ở
đây có kẻ trùng tên với ông...” (Cổ học tinh hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và
Tử An Trần Lê Nhân).
Còn những truyện kể khác thì người
ta có thể bắt đầu bằng đủ cách:
- Bằng một câu tả cảnh: “Trăng
sáng quá, cô giáo An đang ngồi ở đầu sân bỗng nhớ đến chồng vở đang chờ cổ vào
chấm ngay trong đêm nay...”
- Bằng một ý nghĩ về cuộc đời: “Từ
nay, mình sẽ sống ra sao? ”
- Bằng một cảm giác mới lạ: “Lần
đầu tiên Lan cảm thấy gió buổi chiều như đang thầm thì với mình”.
- Bằng một tiếng kêu; "Trời
hỡi là trời"
- Bằng một tiếng gọi thân mật:
“Hòa ơi!”
- Bằng một câu hỏi: “Sao anh lại
lặng im mãi thế?"
- Bằng một âm thanh: “Tùng tùng...
tùng” (tiếng trống) hoặc “ủ... ù... ừ”... (còi tầm) v.v...
Có vô vàn cách vào chuyện thì
cũng có vô vàn cách kết thúc. Cách kết thúc câu chuyện thường hay gắn với chủ đề
câu chuyện. Lần đó có một em ở Câu lạc bộ Văn học Cung Văn Hóa thiếu nhi Hà Nội
kể chuyện về một cái bóng đèn điện. Chú bóng đèn này thích phô trương, không chịu
đứng yên cứ nhờ gió thổi mạnh để cho mình được đung đưa, tung tẩy, nhưng rung mạnh,
chú bóng đèn bị cháy tóc. Em bé đem cái bóng đèn ấy ra ném vào một cái sọt rác.
Hai em bé khác đi ngang qua lấy đá ném cho cái bóng vỡ tan ra... Đem đọc chung
có mấy ý kiến cho là cách kết thúc ấy hơi gay gắt. Tác giả câu chuyện liền viết
lại và cho hai em bé mang cái bóng đèn về, cắt bỏ đoạn trên, lấy phần dưới làm
một cái lọ con, đặt trên ba hòn cuội để nuôi cá vàng. Cái bóng đèn lại được tiếp
tục cuộc sống mới của nó. Tác giả tâm sự: “Em cũng có cân nhắc giữa việc dùng
cái bóng điện để nuôi sống cây vạn niên thanh xanh tốt hoặc để nuôi cá vàng. Cuối
cùng em chọn nuôi cá vàng vì em thấy như thế vui hơn.”
Xem thế đủ thấy một câu chuyện có
thể kết thúc bằng nhiều cách, tùy theo ý nghĩa mà người kể muốn gửi vào trong
câu chuyện.
Rô-đa-ri, nhà văn nổi tiếng viết
cho thiếu nhi của Ý, có viết rất nhiều truyện và ở mỗi truyện đều có ba cách kết
thúc khác nhau. Ông để tùy độc giả chọn cái kết thúc mà mình thích nhất. Nhưng
đồng thời tác giả cũng nói rõ mình thích nhất cái kết thúc nào.
Nói cụ thể hơn, về những cách kết
thúc thì các câu chuyện cổ tích thường hay khép lại bằng hai chữ: Từ đấy (“Từ đấy
hoàng tử và công chúa luôn sống bên nhau..."hoặc “Từ đấy vợ chồng cụ già
không còn bị ma quỷ quấy rầy như trước...”).
Còn trong những câu chuyện khác
thì người ta thường kết thúc bằng những cách na ná như khi vào chuyện: tả cảnh,
tả tình, một cảm giác mới lạ, một tiếng kêu, một tiếng gọi, một câu hỏi, một âm
thanh...
Và bằng những cách đó, người kể
chuyện thường muốn gợi cho độc giả:
- Một sự đột ngột thú vị.
- Một dư âm ngân nga mãi trong
lòng người đọc.
- Một sự nhấn mạnh về ý nghĩa câu
chuyện mình kể (Nên sống như thế nào? Nên xử thế ra sao? Nên yêu cái gì? Ghét
cái gì?).
* * *
Khi kể chuyện cần chú ý đến giọng
kể. Giọng kể thường phụ thuộc vào câu chuyện. Thường thường chuyện vui thì người
ta hay kể bằng cái giọng vui, còn chuyện buồn thì hay kể bằng giọng buồn. Nhiều
chuyện có lúc vui, có lúc buồn thì giọng kể cũng có thể tùy theo đó mà thay đổi.
Nhưng cũng có trường hợp, người kể lại dùng một giọng không vui mà cũng không
buồn. Nghĩa là họ kể một cách bàng quan, có khi lạnh lùng nữa.
Nói chung người kể bằng giọng nào
thì tùy thích, miễn là đạt được hiệu quả cao.
Nhân nói đến giọng kể và những
chuyện vui, buồn, tôi muốn nói đến một vấn đề quan trọng hơn. Tôi đọc truyện cổ
tích, truyện kể của nước ta và của một số nước trên thế giới, tôi thấy hình như
mỗi dân tộc có một tính cách riêng qua những câu chuyện ấy. Có khi rất gần nhau
mà tính cách dân tộc này thì thế này mà tính cách dân tộc kia thì lại thế kia,
chứ không cứ phải xa mới khác nhau đâu. Chúng ta, có lẽ ai cũng đã đọc truyện
Nghìn lẻ một đêm, trong đó có những truyện dữ dội. Riêng tôi lần đầu tiên đọc
thấy trong đó có câu chuyện người anh hóa thành con chó để người em dắt đi
theo, tôi cứ bàng hoàng cả người. Hình như ở ta cũng có chuyện hóa thành hổ,
thành chim, thành cóc... nhưng hóa thành chó rồi đứa em ngày ngày dắt đi theo,
thì hình như không có. Nói thế tôi không có ý cho là dân tộc mình hơn dân tộc
khác đâu. Trong câu chuyện người anh hóa thành chó, cũng có cái khía cạnh hay của
nó. Trước hết là nó rất đời... ở đây tôi chỉ muốn nói đến tính cách khác nhau
thôi... Tôi lại cũng nhận thấy rằng dân tộc mình, cha ông mình thường hay dạy
con cháu lòng nhân ái: “Lấy nhân ái thắng hung tàn", lòng thương người
"thương người như thể thương thân". Tôi cũng thường hay chú ý tới
cách đặt tên rất độc đáo của nhân dân mình cho những thứ độc địa, thậm chí giết
người: mìn lá, bom dứa, con ngỗng (máy bay của Pháp) sừng trâu (tức là máy bay
B.52 của Mỹ). Lá, dứa, ngỗng, sừng trâu đều là những cái tên hiền lành, đáng
yêu “ thân thiết nữa là khác. Vậy mà nhân dân ta đã dùng chúng để đặt tên cho
những thứ vũ khí man rợ và bất nhân kia...
Nói gọn hơn, tôi mong rằng khi
sáng tác ra những câu chuyện để kể (hoặc kể lại một câu chuyện đã có theo cách
cảm nghĩ mới của mình, hoặc viết tiếp theo những câu chuyện ấy), khi tạo tình
huống, khi tìm chi tiết, chất liệu, khi chọn giọng kể, ngôn ngữ để kể, có lẽ
chúng ta nên chú ý đến cái tính cách Việt Nam, cái chất tâm hồn Việt Nam, cái
hương vị Việt Nam. Không có cái gọi là riêng của Việt Nam đó thì tôi e rằng
giá trị, hiệu quả câu chuyện mình kể sẽ bị ảnh hưởng, sẽ bị giảm sút rất nhiều.
Các em có thể sẽ đặt ra một câu hỏi:
Vậy làm thế nào để có được cái chất Việt Nam kia?
Tôi xin trả lời một cách thật giản
dị: Cứ xem cho nhiều những vở chèo, vở tuồng, nghe cho nhiều những câu dân ca,
những câu hò.., cứ chịu khó đọc thật kỹ vốn văn học dân gian, vốn văn học cổ điển
dân tộc… cứ sống hết mình với những người thân trong nhà, ở trường, ngoài xã hội..,
dần dần các em sẽ có một cái vốn về dân tộc, tâm hồn các em sẽ thấm đượm một
hương vị Việt Nam lúc nào không hay... Và khi nghĩ, khi viết, cái hương vị ấy tự
nó sẽ tỏa ra từ những dòng chữ…
* * *
Điều cuối cùng tôi muốn được trao
đổi với các em là các em chỉ nên kể những câu chuyện gì mà các em thuộc, về
những nhân vật mà các em yêu thật sự (hoặc ghét thật sự), chứ đừng nên kể những
gì mà các em chỉ mới biết, mới nghe qua, chưa thấy xúc động, chưa thấy muốn kể
cho người khác cùng nghe.
Có một tập truyện nổi tiếng khắp
thế giới (đáng tiếc là ở nước ta chưa dịch) của Mô-rit-xơ Xen -đắc (Ba Lan): Nấu
bếp đêm. Một trung tâm nghiên cứu lớn ở Mỹ đã nhờ hàng trăm người tham gia vào
việc tìm hiểu vì sao mà tác giả lại có thể viết hay đến như vậy. Họ điều tra ở
các bạn đọc nhỏ tuổi (điều tra rất kín đáo, không hề
cho các em biết là mình điều tra,
bằng cách bí mật đặt máy ghi âm rồi thu nhặt những ý kiến của các em một cách rất
tự nhiên, thoải mái). Họ khéo léo điều tra cả tác giả thông qua các nhà báo,
nhà văn đến phỏng vấn, trò chuyện. Họ đặt ra rất nhiều câu hỏi một cách cũng thật
thân mật và nhẹ nhàng, trong đó có những câu rất vui: “Tại sao tác giả lại chọn
ba người nấu bếp đêm (làm bánh mì...) mà không là hai người hoặc bốn người, năm
người?” Tác giả Mô-rit-xơ Xen-đắc đã vui vẻ trả lời đại khái như sau: Có lẽ vì
ngày xưa bố tôi là thợ may, ông ngồi ở giữa và có hai người ngồi phụ việc ở hai
bên, vì vậy mà con số ba người, trong ý nghĩ tôi từ bé đến lớn là con số tốt nhất,
đẹp nhất, hay nhất. Cho nên, khi tôi viết Nấu bếp đêm, không cần nghĩ ngợi, tôi
đã chọn con số ba người. Với câu hỏi: “Tại sao tác giả lại chọn cái lọ đựng sữa
mà không dùng cái bình đựng sữa?”, Mô-rit-xơ Xen-đắc cũng trả lời na ná như vậy:
“Có lẽ vì lúc bé, mẹ tôi hay dùng cái lọ, chứ không dùng cái bình để cho tôi ăn
sữa”.
Và cả cái công trình nghiên cứu tốn
rất nhiều công phu, nhưng cũng rất khoa học kia, khi kết luân đã viết một câu đại
khái như câu tôi đã nói ở trên: tác giả viết hay vì tác giả đã viết những gì
mình thuộc nhất, những gì đã thành máu thịt của chính mình.
Mà các em, nếu biết sống tốt, sống
hết mình với mọi người, trong gia đình, ngoài xã hội, biết chịu khó quan sát, cảm
nhận và suy nghĩ (có ghi chép hoặc không cần ghi chép, tùy theo cách làm việc của
các em) nhất định các em cũng sẽ có những câu chuyện, những con người, những
chi tiết, những chất liệu, mà các em hiểu, các em thuộc (và chừng mực nào đã trở
thành máu thịt của các em), để các em viết lại, kể lại cho các bạn mình cùng
nghe.
Hà Nội, tháng 9-1989
PHẠM HỔ
Nguồn: Văn miêu tả và kể chuyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1991.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét