Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

TRẠNG KHẾ




Ngày xửa ngày xưa vùng làng Tích, phố Nhồi gần kinh đô nước Việt có một gia đình. Nhà ấy giàu, chưa nứt đố đổ vách nhưng cũng ruộng cả ao liền, khiến có người sinh lòng tham. Buồn thay, kẻ tham lại là anh cả trong nhà, dù nhà chỉ hai anh em. Khi cha mẹ lần lượt mất đi, người anh bàn chuyện chia gia tài để mỗi người mỗi cơ ngơi, cùng rạng danh tiên tổ. Ỉ mình vai lớn, người anh chiếm hết nhà to vườn rộng. Chỉ để lại cho người em một thẻo vườn hoang thắt hậu, có một gốc cây dại. Người anh lí sự:

- Nhà chú không con trẻ, cần gì nhiều. Một góc vườn ấy là đủ rồi. Nhà anh chị con đàn, rồi đây cháu đống, lại đã có thằng đích tôn. Họ nhà mình nối dõi chỉ có thằng cả nhà anh, có lấy hơn chút đỉnh, thì cũng là hợp lễ nghĩa. Chú nhỉ?

- Dạ vâng! - Người em trai thưa. - Anh đã dạy em xin vâng!

Vợ trẻ của người em bấu tay chồng tính phản đối để xin thêm miếng đất ruộng cấy trồng, anh chồng làm như không biết, không nói thêm một tiếng. Người vợ đành nỉ non:

- Dạ thưa! Với chúng em như thế là đủ. Nhưng sau này...

- Thôi thím đừng nhiều lời! - Người chị dâu lên tiếng. - Lấy nhau đã bằng ấy năm mà không sinh nở thì... lép rồi, có đáng là dâu con nữa không? Quyền huynh thế phụ. Ý anh là ý cha! Chẳng nên huynh đệ tương tàn vì chút ít của cải!

Chút ít kia là nhà lim tòa ngang dãy dọc, là ao cá tăm sủi như trời rải mưa, là đồng lúa thẳng cánh cò bay. Cũng còn là may, thẻo vườn hoang ấy nếu không thắt hậu xấu dáng thì người em đã chẳng có phần!

Từ ngày vườn hoang vào tay gia đình người em thì cái cây dại xanh tươi khác hẳn, bắt đầu đơm hoa tím và ra trái mùa đầu. Nhưng nó là cây gì, vẫn chưa ai biết. Chỉ đoán chừng hạt cây từ hoang đảo nào được gió mùa thả xuống biển, biến dềnh thủy triều ném vào vùng đất bồi. Rồi chim tha hạt thả xuống vườn nhà ấy. Cây đã chín mười tuổi mà không được thơm danh như đào, mậm hay lựu, lê. Cũng không dân dã như tên quýt, bưởi hay nhãn, vải. Trái cây ấy không tròn xinh như táo, cũng không thon dài như mướp, mà gom một cục gồ ghề, chia năm xẻ bảy, có u bự, có hõm sâu. Sợ là thứ cây dại ra trái độc chẳng ai dám ăn thử.

Dưới bóng cây ấy, người vợ nói với chồng:

- Nhà không tấc đất cắm dùi, hay ta hạ cây này trồng thứ khác. Nếu không trồng chanh trồng ớt lấy trái ăn mỗi bữa thì trồng chuối trồng mướp hái trái đi chợ, trồng xoan trồng sung để mươi năm nữa, lấy gỗ làm nhà!

Người chồng can:

- Chẳng nên mình ạ. Cây ấy sống trong vườn nhà ta đã cả chục năm, đã như người cật ruột! Cái cây có nhựa cũng như con người ta có máu, lẽ nào phạm vào da thịt. Với lại tôi vẫn thấy trẻ lối xóm ngồi dưới bóng cây đánh chắt đánh chuyền. Đốn cây, khác nào phá vườn trẻ. Nếu trời thương, cho ta một thằng cu Tý, chặt cây rồi, con chơi ở đâu?

Vậy là cây dại được sống.

Không có đất canh tác, vợ chồng nhà ấy cày thuê cuốc mướn nuôi nhau, chứ không chém cây giật đất. Chỉ tội người vợ, đã đầu tắt mặt tối suốt ngày theo chồng, chăn trâu cắt cỏ, về tới nhà lại còn phải quét hoa rơi với trái chín rụng.

Một sớm mai, người vợ thấy một đám mây ngũ sắc trên trời cao từ từ hạ xuống tán cây dại. Chị buông cây chổi trà nhìn lên thì thấy không phải đám mây mà là một bầy chim, những con phượng hoàng. Chim ríu ran ăn trái chín, vừa ăn vừa nối lời, hót tiếng người:

Bên đông thì ngọt

Bên đoài thì chua

Chim ăn dẻo cánh

Bay đi chuyển mùa

Thấy có người đứng dưới tán cây, con phượng đẹp nhất lên tiếng:

- Ta là thần điểu đầu đàn, dẫn chim thần mang mùa xuân từ biển Đông sang biển Tây. Tới đây mỏi cánh, lại thấy thứ trái cây quen thuộc vẫn trồng ngoài đảo thần tiên thì ghé vào thưởng lãm. Chưa có lời xin, thật thất lễ. Mong gia chủ miễn thứ.

Chim đầu đàn vừa dứt lời thì cả đàn phượng hoàng lại vỗ cánh vừa múa vừa ca:

Chim phượng, người hoàng

Nghìn năm khế ước

Ăn quả trả vàng

May túi ba gang

Tích hoa chờ phúc

Thấy chim ăn trái ấy ngon lành, người vợ mừng lắm, vội hỏi:

- Chim phượng ơi! Trái ấy ăn được, nhưng gọi là trái gì để tôi còn rao bán ngoài chợ lấy tiền nuôi chồng tôi?

Chim đầu đàn trả lời ngay: ò ó o o... Tiếng phượng đã hóa tiếng gà. Người vợ choàng tỉnh, thấy chồng đang ngủ ngon lành bên mình. Thì ra chuyện chim nói tiếng người chỉ là một giấc mơ. Nhìn ra ngoài vườn hoang, trên cành cây dại hoa tím, con gà trống thiến bị mất tiếng từ lâu, làm chuyện lạ, vỗ cánh gáy dồn, báo sảng.

Người vợ kể lại giấc mơ cho chồng. Hai người nửa tin nửa ngờ, hái trái cây dại ăn thử, thấy trái bên này cây thật ngọt, trái bên kia cây thật chua. Cả chua và ngọt đều ngon! Từ đấy, cây dại thành cây ăn trái. Người vợ hái trái ra chợ rao bán, kẻ mua đông lắm. Ai thấy trái lạ cũng muốn ăn thử, vừa ăn vừa hỏi, trái gì? Nhớ bài hòa ca chim phượng trong giấc mơ, người bán trả lời khế ước. Trái ngon đã cầm tay còn ước với ao gì nữa, những người ăn trái bỏ chữ ước chỉ giữ chữ khế. Cây khế có tên từ đấy.

Cây khế càng lớn càng sai quả, tán càng rộng. Ngày trước chỉ con nít tới hóng mát, bây giờ thêm người lớn tới xin giống về trồng. Để tiện bề tiếp khách xa, vợ chồng người em mở quán cơm bình dân ngay bên gốc khế, chuyên bán các món chế biến từ khế.

Người vợ vốn chăm chỉ lại giỏi bếp núc, từ trái khế chế ra nhiều món thật ngon. Món bình dân có tép khô rang khế ngọt, món sang trọng thì bò tơ bóp thấu khế chua. Con tép khô rang khế ngọt, mềm như tép tươi. Miếng thịt bò tươi còn đỏ thẫm, gặp khế chua thì chuyển màu lòng đào, đủ chín mà thịt vẫn mềm. Trái khế chua thay cơm mẻ nấu canh riêu cá, riêu cua, vị canh thanh hơn. Khế chua thái mỏng mà thay dấm trộn gỏi, miếng gỏi đã ngon miệng lại vui tai. Trong đĩa rau ghém có vài lát khế thì vị chua khiến rau còn ngon hơn thịt hơn cá. Đặc biệt trái khế cắt dọc từng múi mà làm ô mai khế có rắc bột cam thảo thì môn sinh trẻ của các thầy đồ nho, chỉ nghe tên thôi đã chảy nước miếng.

Quán cơm bình dân mở ở làng Nhồi bán cho mấy bác đánh dậm, mấy anh thợ cày mà tiếng đồn vang đến kẻ chợ. Trong kinh thành, người ta cũng biết tiếng cơm khế nhà ấy. Đức vua vốn là người kén ăn, liền hạ chiếu điều người làng Nhồi vào kinh nấu thử. Nhưng tờ chiếu điều người tài, chỉ đến tay các chức dịch trong làng và những người nhà giàu. Mà giàu nhất làng vẫn là gia đình người anh. Bà chị cả lại tham, sai người làm mang cái đĩa sứ Giang Tây nhắn cô em làm cho một đĩa bò tơ bóp thấu khế chua, nói là để cúng gia tiên, nhưng đổi tên món ấy thành món Cờ đào sao xanh đại tiệc, rồi sai chính con trai mình giả đầu bếp, mang món ngon tiến vua. Đức minh quân thấy những lát khế nở sao xanh trên lát thịt hồng đào, món ăn mà phần phật như lá cờ thì trân trọng nếm thử. Ngon thật! Ngài vừa ý, giữ ngay tay bếp trẻ, xung vào đội ngự thiện, chỉ chuyên món ấy. Vị khế chua lạ quá, vua đã thích, các bà vợ chính và thứ của vua lại còn thích hơn, ai cũng đòi cờ đào sao xanh! Vậy là, theo luật cung đình, tay bếp trẻ cháu đích tôn nhà kia được thành thái giám, mất ngay tức thì thời con trai, để được hầu hạ cả vua ông và một trăm lẻ một vua bà!

Lại nói chuyện gia đình người em, chỉ là ông bà hàng cơm nhà quê nhưng nhờ buôn ngay bán thẳng nên ngày một khá hơn. Dù khá, họ cũng không mải đếm tiền đến quên tích đức. Người vợ vẫn nhớ lời chim phượng, may túi ba gang / tích hoa chờ phúc, tự tay may cái túi sáu tấc, đo phỏng chừng bằng ba gang tay người vợ hiền. Nếu đo bằng tay người chồng lực điền, túi ấy hơn bảy tấc dài! Túi ba gang được nhồi hoa khế tím phơi khô thì túi ấy thành hình cái gối đôi, đủ để hai vợ chồng gối chung. Họ gối lên hoa mà ngủ, ngủ rất ngon và mơ những giấc mơ lành. Trên gối hoa, tình vợ chống khăng khít hơn, người vợ đậu thai rồi sinh được một cu Tý đúng như ước nguyện trước đó.

Thằng bé lớn nhanh như thổi. Là con nhà thứ dân nó không được tới trường, nhưng...

Nhờ nhà bán ô mai khế, học trò tuổi để tóc trái đào kéo tới rần rật như đi hội. Những chữ thánh hiền từ miệng đám nho sinh nhi đồng ấy nhập tâm cu Tý, nhờ vậy, cậu bé con bà hàng cơm làu thông chữ Nôm, chữ Hán. Một lần vua kinh lí qua làng Nhồi, thấy trẻ em xếp hàng chờ ô mai khế, nhà vua xuống kiệu tìm hiểu. Ngài thấy thằng bé con ông chủ đổi ô mai lấy các bức chữ, các trang sách, chứ không lấy tiền thì thích lắm, cho rằng đấy mới là hiền tài. Ngài cho gọi cu Tý, chỉ lên cây khế mà nói, hãy vịnh. Cu Tý liền lấy đũa bếp, vừa khóc hu hu vừa viết xuống đất bài lục bát chữ Nôm:

Ai về quán Tích làng Nhồi

Để thương để nhớ cho tôi thế này

Trèo lên cây khế nửa ngày

Ai làm chua xót lòng này khế ơi

Nhà vua lấy làm lạ hỏi tại sao khóc. Cu Tý chỉ lên tòa ngang dãy dọc mà ông nội để lại cho bác Cả, đang lạnh tanh hương khói, thưa rằng, vì cháu đích tôn đã thành thái giám bị nhốt trong cung, việc cúng kiếng không được chu tất. Vua giật mình! Ngài khen cu Tý làm thơ hay, đã có tài lại có tình, liền xuống chiếu tại chỗ, phong cho thằng bé còn để chỏm học vị Trạng Khế, lại lệnh hoàn gia người anh thái giám của cu Tý để người ấy được về thờ tự tổ tiên.

Và truyện cổ tích này còn kéo dài cho tới ngày vợ trạng Tý lại sinh con trai, với rất nhiều chuyện tức cười khác được lưu truyền trong dân gian!

TRẦN QUỐC TOÀN

Nguồn: Những truyện hay viết cho thiếu nhi – Trần Quốc Toàn, Nxb Kim Đồng, 2015.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét