(LNK). Một tiểu luận công phu của nhà nghiên cứu Vũ Nho về thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu - Góc sân và khoảng trời!
******
1. Một thần đồng thi ca
Thần đồng thi ca - có lẽ đây là từ ngữ thích hợp nhất để nói về nhà thơ Trần Đăng Khoa với những bài thơ làm từ góc sân dạo ấy. Thần đồng vì mới học lớp hai, mới lên tám tuổi đầu, chữ nghĩa chả có bao nhiêu, mẹo luật ít câu cú hẳn là càng ít ỏi. Vậy mà bé Khoa đã làm được thơ - làm được rất nhiều thơ.
Điều quan trọng nhất để tôn vinh chú bé lên thần đồng chính là ở chỗ những bài thơ đó rất lạ, rất hay. Lạ và hay ở mức trước đó chưa hề thấy, mà sau đó cũng chẳng thấy thêm. Lạ và hay ở mức những em bé cùng lứa với Trần Đăng Khoa dù có làm thơ, có nổi tiếng nhưng không thể đạt “cỡ” Trần Đăng Khoa. Các nhà thơ người lớn đã thành danh lại càng không thể viết như em Khoa, cháu Khoa được nữa. Hiện tượng Trần Đăng Khoa là hiện tượng không chỉ của riêng Việt Nam mà còn là hiện tượng hiếm hoi của toàn thế giới.
2. Hành trình của một kiểu xưng hô
Thơ Trần Đăng Khoa làm cho người ta ngạc nhiên, khoái trá vì cách quan sát tinh tế, cách nhìn nhận sự vật hồn nhiên, cách liên tưởng rất riêng cùng với cách nói lên những gì nghĩ ra, cảm được và trông thấy. Một phần làm nên cái gọi là giọng điệu thể hiện trong cách xưng hô. Chính xác hơn là trong một kiểu xưng hô. Giữa ban ngày, giá có thắp đuốc lên để tìm kiếm, hẳn là khó có thể tìm ra mấy chữ “mày, tao” rất dân dã, đời thường trong các trang , văn học viết Việt Nam. Nghịch ngược như Hồ Xuân Hương kia, một người được mệnh danh “bà chúa thơ Nôm” cũng chỉ xưng “chị”, xưng “đây”. Bản lĩnh, ngông nghênh như Tú Xương nọ, cũng chỉ đôi ba lần xưng “tớ” (Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn - Chẳng sang Tàu tớ cũng tếch sang + Tây). Phải nói cho sòng phẳng rằng chữ mày” chữ “tao” ấy đã được dùng thoải mái trong lĩnh vực thơ ca dân gian, nhưng gần như là một thứ cấm kị trong thơ ca bác học. Bởi thế mà kiểu xưng hô “mày, tao” của Trần Đăng Khoa vừa có cái tươi tắn hồn nhiên, lại vừa như bổ sung thêm một kiểu xưng hô suồng sã, dân dã, đời thường làm cho thơ ca thêm được phần giàu có. Một điều lí thú là người ta quen nghe “lời hay ý đẹp” thành ra không muốn nghe những lời “thô” ở trong thơ. Chú bé Khoa viết:
Trăng bay như quả bóng
Đứa nào đá lên trời.
Chữ “Đứa nào” hồn nhiên, trẻ con kia đã được người biên tập sửa lại thành “bạn nào” cho hợp với cách nói năng của thiếu niên ngày ấy. Thế nhưng “mày, tạo” thì sao? Chả lẽ “mày, tao” lại không thô hơn so với “đứa nào” Dứt khoát là phải sửa. Nhưng đứa nào chỉ chữa tí tẹo là thành bạn nào. Còn “mày tao” thì chữa thành kiểu xưng hô nào cho tương đương? Làm sao có thể thay 6 chữ “tao” và 4 chữ “mày” ở bài “Đánh thức trẩu” mà không làm hỏng mất cái hồn của bài thơ, chí ít là không hỏng mất sự tiếp nối với mạch cầu hát dân gian của bà bé Khoa? Giả sử ông tác giả trẻ con ấy chỉ xưng hô “mày tao” duy nhất ở bài thơ trên thì kì khu bỏ công bỏ của ra cổ mà chữa cũng đáng. Nhưng ở một bài thơ đáng xếp vào kiệt tác khác, bài “Sao không về Vàng ơi” Trần Đăng Khoa đã 11 lần xưng “tao” và 15 lần gọi “mày”. Rồi trong những bài thơ khác nữa: “Đánh tam cúc”, “Nói với con gà mái”, “Câu cá”, “Nhớ bạn”, thì sửa thế nào? Phải chăng vì tần số “mày, tao” quá nhiều? Phải chăng vì không thể thay thế được? Nên đành cứ để cho Khoa gọi hàng ngày ra sao thì viết vào thơ như thể
Quả là một kiểu xưng hô mới. Nhưng rõ ràng không phải lúc nào Trần Đăng Khoa cũng cứ “mày tạo”. Khi bé Khoa lớn dần, khôn dần thì cái kiểu “mày tao” đó cũng dần dần rời bỏ thi nhân. Bài thơ “Câu cá” có thể xem như một bước chuyển tiếp trong cách xưng hô đó. Trần Đăng Khoa gọi cá là “chúng mày” nhưng lại không xưng “tao” nữa, mà xưng “ta”:
Cả cả chúng mày ơi
Dù con to con nhỏ
Đều nằm khoèo trong giỏ
Với những bài thơ đã in, có lẽ bài “Nhớ bạn” viết vào mùa hè năm 1972 là bài thơ cuối cùng nhà thơ - chú bé họ Trần còn xưng “mày, tao”. Cũng liền trong năm ấy, ở bài thơ “Bến đờ”, chú bé Khoa thường xưng em, xưng cháu và rất nhiều lần xưng tao như đã dẫn ở trên, lần đầu tiên xưng TA, một chữ TA trọn vẹn (không phải TA với Chúng mày như trong bài “Câu cá”). Chữ TA vừa kiêu hãnh lại vừa xót xa. Chữ TA thể hiện sự lớn khôn nhưng vĩnh viễn mất đi phần thơ ngây quí giá:
Ta thèm nhìn những kỉ niệm ấu thơ
Gió thổi cồn cào mặt nước
Mất một nỗi gì không thể tìm lại được che trời
TA đi lòng vẫn ở nơi đây
Ai cũng chỉ có một lần
Cái thuở thơ ngây
(1972)
Tính tuổi thì năm ấy là năm Trần Đăng Khoa mười bốn, cộng thêm tuổi mụ vừa chẵn mười lăm.
Còn nhớ anh Phạm Tiến Duật có lần nhận xét rất sâu sắc rằng đó là cái tuổi không thể nói chuyện “mày, tao” với những con chó, con mèo được nữa. Nhưng lại cũng chưa thể làm một chàng trai để viết được những câu thơ yêu đắm say hay viết sâu sắc về trách nhiệm một công dân. Trần Đăng Khoa bắt đầu thời kì khủng hoảng. Một sự khủng hoảng cần thiết để trưởng thành. Lớn, Trần Đăng Khoa vẫn tiếp tục làm thơ. Không thấy nhà thơ xưng hô “mày, tao” nữa. Cái hay của thơ ca thần đồng bỏ anh Khoa vĩnh viễn ra đi. Biết rằng khi ấy tuổi thơ “dẫu van chẳng ở” nên Trần Đăng Khoa tỉnh táo lắm, nhắc lại một chân lí xưa hơn trái đất, nhưng rất mới với chú bé Khoa vừa “lớn lên rồi”:
Ai cũng chỉ có một lần
Cái thuở thơ ngây
3. Một thế giới riêng kì diệu
Đọc những bài thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi học trò, thấy rõ một điều: càng nhỏ tuổi thơ càng hồn nhiên. Sự hồn nhiên là một đặc điểm tâm lí rất quan trọng của tuổi ấu thơ. Nó đem đến một cái nhìn trinh nguyên và kì diệu. Chỉ có cái nhìn ấy, chỉ có đôi tại ấy mới có thể nghe, cảm và thấy được những điều không ai thấy được khi đã thành người lớn. Ngây thơ, hồn nhiên là một bảo bối có sức mạnh nhiệm màu. Nó biến những gì tầm thường, đơn giản và nhàm chán thành những thứ mới mẻ, quí giá, thiêng liêng trong trẻo, đẩy ánh sáng và hương thơm, đầy non tơ và quyến rũ.
Trong con mắt trẻ thơ, tất cả đều là sinh thể, là những vật vật - người có cuộc sống riêng bí ẩn và lí thú. Vì thế mà “Cỏ gà rung tai nghe/Bụi tre tẩn ngẩn gỡ tóc/Hàng bưởi đu đưa/ Bế lũ con đầu tròn trọc lóc/Cây dừa sải tay bơi”.
Ngọn mồng tơi nhảy múa. Muôn nghìn cây mía múa gươm”. Đấy là những vật hữu hình. Còn có những thứ không có hình dáng cụ thể như trời, như sấm sét cũng được nhìn thấy rất rõ nét, có thể ghi hình, chụp ảnh và cả ghi âm nữa. Ông trời thành ra một dũng tướng oai phong:
Ông trời mặc áo giáp đen
Ra trận
Sấm mang bóng dáng của ông Thiên Lôi vui tính
Ghé xuống sân
Khanh khách
Cười
Thế giới vật - người vô cùng đa dạng và phong phú. Phải chăng cái gọi là biện pháp nghệ thuật nhân hóa - đem gán cho vật hay cho thần những đặc điểm người - biện pháp được khai sinh khi nhân loại còn ngây thơ (lúc bắt đầu thể loại truyện thần thoại - thể loại tối cổ của văn học dân gian) bây giờ được sử dụng hay nhất chỉ ở tuổi thơ, chỉ ở những chú bé thần đồng như Trần Đăng Khoa?
Khi làm thơ, Trần Đăng Khoa chưa được đi đâu xa. Thế giới thơ ca của chú bé nhà quê dù chỉ giới hạn từ “góc sân” ra đến cánh đồng và một khoảng trời xanh biếc nhưng thật mênh mông và vô cùng rộng lớn. Đấy là một thế giới riêng huyền diệu, chỉ trẻ thơ mới được phép ra vào tự do. Chỉ có người thơ như Trần Đăng Khoa mới có thể kể cho chúng ta nghe, nói cho chúng ta hiểu về thế giới đó.
Trong thế giới ấy, “Trầu” là chú bé con hay đi ngủ sớm cần phải đánh thức. Thức rồi chú ta lại có thể ngủ lại ngay đấy cho nên muốn nói chuyện phải đòi bằng được chú ta mở mắt ra:
Trầu ơi hãy tỉnh lại
Mở mắt xanh ra nào
Lá nào muốn cho tạo
Thì mày chìa ra nhé!
Thế giới ấy chỉ quanh nhà, quanh sân, quanh vườn, chỉ toàn cây với vật nhưng biết bao nhiêu vẻ, bao nhiêu màu?
Cây dừa thích giao lưu:
Giang tay đón gió gật đầu gọi trăng
Cây na hay chợp ngủ:
Mắt na hé mở
Nhìn trời trong veo
Cau là tay kém chịu nóng:
Cây cau nó bức quá
Phành phạch quạt liên hồi.
Biết bao là người, là vật từ thấp đến cao, từ gần đến xa, từ cụ thể đến trừu tượng: Ông trời, bà sân, bác nổi đồng, bà chổi, chị lúa, cậu tre, cô gió, bác mặt trời. Tất cả đều có màu sắc mới trong cách gọi tên, cách miêu tả của Trần Đăng Khoa. Đây là cảnh làm duyên nơi đồng chiêm với cái ao thân thuộc:
Chị tre chải tóc bên ao
Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương
Đây là cảnh buổi sớm:
Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vẫn chiếc khăn hồng đẹp thay
Đây là cảnh góc bếp:
Bác nồi đồng hát bùng boong
Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà
Cảnh sân kho:
Sân kho máy tuốt lúa
Mở miệng cười ầm ầm
Thóc mặc áo vàng óng.
Thở hí hóp trên sân
Có khi là một cảnh rộng lớn, nhiều người, nhiều việc, nhiều tư thế:
Những chị lúa phất phơ bím tóc na
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua ngọn núi
Nếu so sánh sẽ thấy rằng trong thơ Khoa có bố, có mẹ, có bé Giang, bạn Lộ, bạn Lập, có anh Minh, nhưng có mặt nhiều hơn cả, gây ấn tượng mạnh hơn cả vẫn là cỏ cây, các con vật, những đồ vật trong nhà. Những gà con liếp nhiếp, những con vật trong sân:
Hay nói ầm ĩ
Là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện
Hay chăng dây điện
Là con nhện con
Hay “nói”, hay “hỏi”, hay tí toáy nghịch (hay chăng dây) đều là đặc điểm rất trẻ con mà chú bé Khoa đã thấy ở các bạn - khác loài. Mèo khoang ngồi chơi bài với bé Giang bỗng nhiên cũng rất máu mê, cay cú chuyện thua được. Mèo trẻ con mà lại:
Quân này mày được
Quân này tạo chui!
Mèo ta phổng mũi
"Ngoao! Ngoao" một hồi
- Quân này mày chui
Quân này tao được!
Mèo bỗng dỏng tai
Mắt xanh như nước
- À thôi mày được
Bé Giang dỗ dành
Không chỉ là thế giới quanh em được mang sức sống hồn nhiên, được người hoá theo cách nhìn riêng của trẻ con, Trần Đăng Khoa còn tạo ra thế giới khác nữa, thế giới chỉ có trong tưởng tượng, thế giới huyền ảo được nối với hiện thực bằng sợi dây liên tưởng mong manh. Trong thế giới ấy:
Từng đoàn sứa
Giương ô đi trong hội lân tinh
Thế giới ấy có con của bay:
Cua đạp mạnh tám còng
Bật sáng choang đôi mắt
Yếm nâu phần phật
Bay vút lên cao
Thế giới ấy có thần hạn kì quái:
Tiếng thở ồ ồ
Xung quanh loằng ngoằng lửa đỏ
Thần hạn bay nhoáng nhoàng
Cánh dọc ngang xé gió.
Vòi xì khói cay xè
Nhưng suy cho cùng, thế giới có thần hạn, Diêm vương cũng chỉ là ánh hồi quang của thế giới cổ tích mà thôi. Nó làm phong phú thêm các hình tượng trong thơ Trần Đăng Khoa, nhưng nó không sinh động và lí thú như thế giới cỏ hoa cây trái, những vật nuôi trong nhà mà Trần Đăng Khoa đã thâm nhập, đã kể lại theo cách của một nhà thơ thần đồng.
Bằng sự hồn nhiên trong trẻo, Trần Đăng Khoa đã mở cửa vào được thế giới riêng kì diệu - thế giới vạn vật hữu linh. Nhờ đó mà ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm gần gũi tự nhiên.
4. Hồn nhiên mà siêu việt
Những bài thơ hay nhất trong tập “Góc sân và khoảng trời” cũng là những bài thơ hay nhất của đời thơ Trần Đăng Khoa. Những bài thơ này in đậm dấu ấn hồn nhiên của tuổi ấu thơ. Chúng được sáng tạo từ khoảng năm 1966 đến năm 1969. Đây là lúc mà sự quan sát, sự tưởng tượng và liên tưởng phát triển mạnh mẽ nhất. Tất cả đều nảy nở và gắn bó mật thiết trên cái nền của sự hồn nhiên. Có thể coi đây là giai đoạn “anh hoa phát tiết” của Trần Đăng Khoa.
Con mắt hồn nhiên trong trẻo ấy đã nhìn thấy ông trời to tướng “mặc áo giáp đen ra trận” và đồng thời nhìn thấy các chú kiến bé tí tẹo trong một đám ma: “Khóc than kiến cánh khoác màu áo tang”. Cũng chỉ với cặp mắt ấy mới có thể thấy hạt lúa mặc áo vàng (có lẽ cũng có nhiều em bé nhìn thấy thóc mặc áo vàng, vì quả thị cũng từng mặc áo vàng trong câu đố dân gian: mình vàng mà mặc áo vàng. Đi ra ngoài đàng ai cũng muốn thơm). Hơn các bạn của mình, Trần Đăng Khoa không chỉ thấy màu sắc chiếc áo hạt thóc mặc, mà còn nhìn thấy thóc đang thở:
Thóc mặc áo vàng óng
Thở hí hóp trên sân.
Người đọc luôn luôn thích thú, ngạc nhiên bởi những cái nhìn đầy phát hiện của Trần Đăng Khoa. Chú bé nhìn thấy vật thật trong vật thật theo kiểu soi gương ở góc độ tinh tế của trẻ con:
Lúa vàng trong đáy mắt
Trời xanh trong lưỡi liềm
Chú bé lại có thể nhìn thấy vật thật trong vật nửa thật nhưng từ góc nhìn rất ảo. Ấy là khi em nhìn ra:
Bây giờ những mũi súng
Vẫn vươn trong lòng người
Tinh vi hơn, nhà thơ nhí còn nhìn thấy cả những vật không thật, không có hình hài, vóc dáng:
Ý nghĩ hắn chạy từ đầu xuống chân
Từ chân ngấm xuống đất sâu nên tôi nghe hết
"Nếu mày sống thì ông cũng giết!"
Kiểu nhìn của trẻ thơ như nhìn qua kính vạn hoa, chỉ khẽ thay một chút là thấy bao hình lạ. Đây là mắt gà, đôi mắt của gà con liếp nhiếp:
Đôi mắt tròn trong như hai giọt nước
Hai giọt nước không bao giờ khô được
Nhưng cũng là mắt gà, mắt gà mẹ đang điên dại vì mất bầy con:
Con mắt lạc hẳn đi
Cái nhìn cháy như hai hòn lửa
Ở tuổi của bé Khoa, lúc ấy chính là lúc sức nhìn sức nghe đều phát triển và vô cùng thức nhọn. Chú bé đã nghe thấy, đã thu nhận được bao nhiêu âm thanh kì lạ. Từ tiếng kêu của con sâu “Con sâu quên không kêu” đến tiếng kêu và tiếng thở của con sâu khác “Nghe rỉ rỉ tiếng sâu. Nó đang thở cuối tường”. Từ “tiếng sương đang đọng mật” đến tiếng “rì rầm rặng duối.Há miệng đòi uống sương” và “tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” của cái lá đa trong đêm thanh tĩnh. Quan trọng nhất là em đã nghe được những tiếng nói của loài vật, thiên nhiên, một khả năng mà ở loài người đã hoàn toàn mai một:
À uôm ếch nói ao chuôm
Rì rào gió nói cái vườn rộng rãnh
Âu âu chó nói đêm thanh
Tẻ... te... gà nói sáng banh ra rồi
Vi vu gió nói mây trôi
Thào thào trời nói xa vời mặt trăng
Vì hiểu được tiếng nói đó cho nên nhà thơ tha hồ mà chuyện trò, tha hồ mà đi đó đi đây trong thế giới gần gũi thân quen mà vô cùng xa lạ, mới mẻ.
Như đã nói ở bên trên, Trần Đăng Khoa nhìn tinh, nghe thính. Nhưng sức nhìn đó đâu chỉ nhờ ở mắt, sức nghe đó đâu chỉ cậy vào tai. Nhìn thấy thóc “thở hí hóp trên sân” là cái nhìn được cộng với sự liên tưởng và tưởng tượng. Nhìn thấy “mồ cô nắng đắp vàng hơn mọi miền” là cái nhìn được lọc qua tình cảm mến thương, kính trọng của một em bé với người nữ liệt sĩ anh hùng. Nghe thấy “tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” là sức nghe được nhân lên bởi sự tưởng tượng. Trần Đăng Khoa kết hợp nhìn với nghe, nghe với nhìn, nghe nhìn với liên tưởng, tưởng tượng tạo ra sự chuyển đổi cảm giác, tạo ra sự mơ hồ, tạo ra sự tinh tế hết sức thú vị:
Nghe hàng chuối vườn em
Gió trở mình trăn trở con khi soạn hoạ
Chuột chạy giàn bí đỏ
Loáng vỡ ánh trăng vàng
Nhìn, nghe, cảm nhiều khi hòa lẫn vào nhau thật khó mà phân ra rành mạch:
Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
Tiêu biểu nhất cho kiểu nhìn, nghe, tưởng tượng này là ở bài thơ “Đi tàu hỏa”. Nghe tiếng “bành bạch” của bánh sắt ngỡ nghe tiếng xay lúa của đất, xay lúa của trời. Đồng thời nghe âm thanh trộn vào trong nắng, thấy nắng nhảy nhót vui vẻ bên cửa sổ trong khi giông bão đang ở dưới gầm tàu:
Nghe ù ù ầm ầm
Đất trời đang xay lúa
Nắng bập bình cửa sổ
Mây bồng bềnh về đâu
Em ngồi trên giông bão
Đang chuyển dưới gầm tàu
Nhờ phối hợp nghe, nhìn, liên tưởng, tưởng tượng, Trần Đăng Khoa luôn luôn có những khám phá, phát hiện | mới mẻ về sự vật. Nghe tiếng chim thấy vị ngọt ngào của ổi “Tiếng chim hót đâu đó - Nghe ngọt vị ổi đào”. Nhìn cây cầu chùng như nhịp võng tưởng nghe được tiếng ru:
Cầu chùng như nhịp võng
Có tiếng ru của sóng
Có tiếng ru của trời
Nghe tiếng diều nhận ra sắc vàng trời đang cao thêm:
Tiếng diều vàng nắng ba
Trời xanh cao hơn
Sự phát hiện tinh tế và lí thú nhất của Trần Đăng Khoa kết tinh trong bài thơ “Hạt gạo làng ta”. Trong hạt gạo nhỏ bé có vị, có hương, có âm thanh, có không gian, có thời gian, có cả thời tiết nắng mưa, bão gió, có bom đạn, có phong trào thiếu nhi, có lịch sử đánh Mĩ...
Có lẽ, tứ ban đầu gợi ý cho Trần Đăng Khoa là bài ca dao “Cây đồng”, nhưng chú bé đã đi rất xa, đã để lại một hạt vàng trong kho châu báu thơ ca của đất nước.
Một nét làm nên đặc sắc của thơ Trần Đăng Khoa chính là nhờ sự liên tưởng và tưởng tượng rất độc đáo, mới mẻ. Chú bé thi sĩ giữ bản quyền khá nhiều phát hiện chưa từng có ở trong thơ. Cánh cò bay lả bay la trên đất này từ mấy nghìn đời nhưng chỉ đến khi bé Khoa nhìn thấy, cánh cò mới thành ra ánh chớp:
Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy
Cũng nhờ có trí tưởng tượng của bé Khoa, những con cò bay thành đàn kia mới thành những đứa bé hồn nhiên xúm vào “khiêng nắng qua sông”. Những trái bưởi thành ra lũ trẻ con “đầu tròn trọc lóc” còn đang phải bế cũng do Trần Đăng Khoa lần đầu tiên phát hiện. Bất cứ đứa trẻ nào ở nhà quê đều biết quả bòng (quả bưởi) bao giờ cũng nổi (nó có khi chìm ấy là lúc nói ngược trong đồng dao Quả bưởi thì chìm, gỗ lim thì nổi). Đối với Trần Đăng Khoa quả X bòng là một hình ảnh của con người kiên trung, bất khuất:
Quả bòng chết chẳng chịu chìm
Áo con mà sống nổi lên bạc đầu
Người đọc đã rất thích hình ảnh mặt trăng - trái chín của Trần Đăng Khoa:
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Xem kĩ lại, đây vẫn là trăng quen thuộc của thơ ca sinh ra bởi “Một trái trăng thu chín mõm mòm”.
Cái riêng của Trần Đăng Khoa chính là ở chỗ đã liên tưởng trăng với biển xanh, với mắt những con cá biển:
Trăng ơi từ đâu đến
Hay biển xanh diệu kì
Trăng tròn như mắt cá
Không bao giờ chớp mi
Gần gũi với trẻ em khắp mọi vùng có lẽ là quả bóng, có thể là bóng chuối (bằng là chuối khô) bóng da hay bóng nhựa, nhưng là quả bóng trong sân chơi, bóng đang di chuyển:
Trăng bay như quả bóng
Đứa nào đá lên trời
Khi trăng lấp ló sau vòm nhãn thì trăng vừa giống như một con gì đó (như con trâu, con bò có thể đem đi chăn, thả) mà cũng không là con gì cả vì ông trăng có thể là một đứa trẻ con được chi hoặc anh, ông hoặc bà dắt đến và thả cho mặc sức đùa chơi. Ở đây cái người dẫn trăng ấy lại cũng chơi trò ú tim, trốn vào đâu đó, để lại một nỗi ngac nhiên:
Ai dắt ông trăng vàng
Thả chơi trong lùm nhãn
Con dao tung hứng tưởng tượng và liên tưởng được nghệ sĩ Trần Đăng Khoa biểu diễn cực kì biến hóa và thành công trong bài “Thả diều”. Trăng với sao, thuyền với sông, cau với nong, lưỡi liềm với cánh đồng gặt hái. Cánh diều thành vầng trăng, thành con thuyền, thành hạt cau, thành lưỡi liềm... chỉ trong giây lát.
Trí tưởng tượng hồn nhiên làm cho củ khoai thành lợn béo, những chả, nhưng nem tất nhiên là khoai luộc cắt khoanh. Đấy là theo logic một chiều. Tưởng tượng của Trần Đăng Khoa còn làm cho đường cày trên ruộng thành sông Ngân trên trời, và sao trời lại hóa thành gốc rạ dưới mặt đất. Đó là sự tưởng tượng qua lại hai chiều, làm phong phú thêm sự cảm nhận. Nhờ bay trên đôi cánh tưởng tượng Trần Đăng Khoa lên trời theo cua đánh thần hạn, theo đoàn người xuống đập cửa Diêm vương. Nhà thơ có quyền năng ngang với những pháp sư lừng lẫy, mang cả biển về quê thật nhẹ nhàng:
Lấp lóe lửa chài - sao hiện ra
Mây bay lóng lánh - cánh buồm xa
Em mang sắc biển về quê đó
Sắc biển xanh trên những mái nhà
Nếu vắng thiếu những sự tưởng tượng và liên tưởng hồn nhiên, nếu vắng thiếu những tinh tế trong cách nhìn, cách nghe, cách cảm gắn liền với liên tưởng và tưởng tượng, thơ Trần Đăng Khoa sẽ thiếu đi nét siêu việt - nét đặc sắc nhất để xếp vào loại thơ thần đồng.
5. Linh hồn của thơ - tình cảm
Ở mỗi bài thơ, Trần Đăng Khoa hầu như đều có cách nhìn, cách cảm, cách nghe riêng, có cách tưởng tượng độc đáo, sự liên tưởng bất ngờ. Trong bài thơ hay nhất là bài thơ mà tất cả những điều đó được kết hợp hài hòa, được tỏa sáng bởi một tâm hồn đa cảm và nhạy cảm. Tách bạch đa cảm và nhạy cảm ra vì có lẽ hình như càng lớn tuổi, ở mỗi người sự nhạy cảm càng giảm đi chăng? Với bản thân Trần Đăng Khoa cũng có vấn đề nhạy cảm khi chú bé Khoa trở thành chú bộ đội Trần Đăng Khoa ngoài đảo Trường Sa. Khi Trần Đăng Khoa đang là chú học trò nho nhỏ, nhạy cảm, đa cảm và những yếu tố khác được kết hợp thật tuyệt vời. Thơ của Trần Đăng Khoa được viết bằng tình cảm, bằng lòng yêu thương thắm thiết nhất với những phẩm chất tốt đẹp vượt trội nhất của một thần đồng. Nhà thơ Phạm Hổ, người theo dõi Trần Đăng Khoa nhiều năm đã nhận xét “có thể khẳng định hầu như toàn bộ thơ của Trần Đăng Khoa là viết bằng lòng yêu thương. Yêu thương từ cây cỏ đến loài vật, từ người thầy trong nhà đến bà con trong làng, trong xóm quanh năm quen một việc ruộng đồng, từ Bác Hồ kính yêu đến các thầy cô giáo, các bạn bè cùng lớp,các anh bộ đội, các cô bác công nhân đào than...”. Tình yêu ấy bộc lộ sâu sắc và tập trung nhất trong những bài thơ viết về mẹ, về chị, về anh Minh, về bé Giang. Ta thấy bé Khoả hết mình khi “mẹ vắng nhà”, Khoa càng hết mình khi “mẹ ốm”. Anh Khoa hết mình trong “tiếng võng kêu”. Nhận thư anh Minh gửi về thì:
Em bóc thư anh vội vã
Ngón tay cứ ríu vào nhau
Khoa rất chịu khó nghe tiếng nói, tiếng của các loài vật, của các loài cây. Vì lòng đầy mến thương nên tất cả những âm thanh đều nhuộm màu tình cảm dịu hiền. Xung quanh trái tim chan chứa yêu thương “dạy tiếng dịu hiền gần xa” (Vườn em). Chúng ta bắt gặp bé Khoa nâng niu, đánh thức trầu, bé Khoa bắt tay chó, nói chuyện với con gà mái, thương con cò trắng muốt, ghét phát xít ăn thịt trẻ con...
Tình cảm hồn nhiên trong trắng ấy đã “tỏa hương” (chữ của Trần Đăng Khoa trong bài thơ "Đổng chiều") trong những bài thơ Khoa viết.
Thay lời kết
Thơ của Trần Đăng Khoa hay cái hay đặc biệt của trẻ thơ. Chỉ có trẻ thơ có những phẩm chất tâm lí, có năng khiếu đặc biệt như Trần Đăng Khoa mới viết được. Khi tuổi thơ trôi qua, khi Trần Đăng Khoa khôn lớn có thêm vốn sống, thêm tay nghề, thêm rất nhiều yếu tố kĩ thuật... thì những yếu tố tự nhiên làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ Trần Đăng Khoa cũng “bay đi ... khá nhiều”
Anh bộ đội Trần Đăng Khoa vẫn làm được những bài thơ hay được tặng giải thưởng hẳn hoi nhưng những bài thơ đó hay ở mức có thể có những người làm được. Nó không hay ở mức độc nhất vô nhị, chỉ có một Trần Đăng Khoa mới viết nổi như thơ tuổi mới đến trường.
Trần Đăng Khoa sớm nhận ra:
Ai cũng chỉ có một lần
Cái thuở thơ ngây
Cái gì chỉ có một lần, một đi không trở lại thì hiển nhiên là quí. Với Trần Đăng Khoa cái thuở thơ ngây ấy là vô giá. Nó đã tặng cho Trần Đăng Khoa những bài thơ độc đáo nhất và những bài thơ ấy đã đem đến cho chú bé hào quang thần đồng. Chỉ trong vòng dăm năm đổ lại, một em bé nhà quê đã kịp làm cho mình một cái tên, một cái tên rất đáng yêu và rất đáng tự hào: Thần đồng thi ca của nước ta và thế giới.
VŨ NHO
Nguồn: Trần Đăng Khoa thần đồng thi ca, NXB VHTT, Hà Nội, 2000.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét